Mua vé máy bay Sài Gòn Hà Nội, theo quốc lộ 32, qua Sơn Tây, vượt cầu Trung Hà, rẽ trái bon trên đường đê sông Đà (còn gọi là quốc lộ 316) chừng hơn 2 cây số là tới làng Hạ Bì Hạ, xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Liền kề phía ngoài đê là cụm di tích đình – đền, nơi hiện đang phụng thờ vua Hùng Nghị Vương thứ 17 cùng Đức Thánh Tản Viên và thành hoàng làng Lý Dục Công. Nhìn qua sông Đà về phía nam, là ngọn núi Ba Vì uy linh soi bóng; thấp thoáng phía bắc theo đường chim bay chừng ngót hai chục cây số là trung tâm Nghĩa Lĩnh, cố đô Văn Lang xưa, nơi Vua Hùng lập ra Nhà nước đầu tiên của cư dân Việt – Mường cổ.

Giữa một vùng đồi núi thấp xen kẽ những cánh ruộng trũng canh tác lúa nước bao đời, ẩn chứa trong từng gò đống, bờ ao, đại thụ cũng như các ngôi đền, đình cổ kính là một thế giới huyền thoại, trong đó hư ảo truyền về các biểu tượng chân dung của đức vua Hùng cùng các tướng lĩnh đương thời, những nhân vật được coi là ân nhân, giúp dân, cứu nước và người dân ngưỡng vọng, tôn vinh qua các đời. Dấu vết từ quá khứ xa xăm hàng nghìn năm, trong tâm thức các thế hệ con cháu khắp vùng đất này, luôn được coi là một thứ “lịch sử” đích thực, nơi gửi gắm niềm tin và ý tưởng tri ân của chính những thế hệ cháu con làng Hạ Bì Hạ nói riêng, cộng đồng dân chúng đất Trung châu nói chung đối với lớp người có công khai phá, mở đường cho sự hiện tồn của dân tộc trên tiến trình lịch sử nước Việt.
Theo bản Ngọc phả “Ghi Chép Sự Tích Vị Đương Cảnh Thành Hoàng Hùng Đoán Phù Quốc Đại Vương Công Thần” (được viết ngày mùng 8 tháng 3 niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên 1572 do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ thần Nguyễn Bính Phụng soạn; hiện chỉ còn giữ được cuốn ngọc phả sao ngày lành tháng 7 Canh Dần, niên hiệu Thành Thái thứ 2 -1890, gồm 25 trang, lưu tại đình Hạ Bì Hạ) còn ghi chép lại, vào đời vua Hùng Nghị Vương ở phủ Ái Châu nước ta có ông tên Sùng, họ Lý và vợ họ Trần, tên Bạch, tổ tiên nối đời làm nghề thuốc, cứu được nhiều người bệnh nặng nổi tiếng khắp thiên hạ.
Khi đó, vua Nghị Vương đang mùa đi săn, thuyền rồng ngự đến bến Hạ Bì, hôm đó (vào ngày mùng 10 tháng 2) nhân dân làm lễ chúc mừng vua thì trời đã tối, nên cho dừng thuyền nghỉ lại bên sông. Nửa đêm, đang ngự trong thuyền rồng, nhà vua mơ thấy khoa thi mở tưng bừng, sĩ tử đến thi rất đông, trong đó thấy có một người tên là Dực Công tuổi mới 22 là thi đỗ Cập Đệ văn võ kiêm toàn, anh hùng đệ nhất. Nhà vua biết đây chẳng phải người thường, nên có ý gả Đế nữ đệ thất Tiên Cung công chúa, cho ông làm Phò mã Đô đốc tướng quân, xưng là người dân gốc Hạ Bì.
Ngày hôm sau, nhà vua sai ông theo hầu trở về kinh đô, triệu gọi Tiên Cung công chúa gả cho ông, ban chức Đô đài đại tướng quân. Được khoảng 8 năm thì vua Nghị Vương băng hà. Duệ Vương thái tử lên ngôi trao cho ông chức Giám quốc chính, cho phép trang Hạ Bì làm đất thang mộc. Sau ngày ông mất đi, dân làng Hạ Bì liền cấp tốc cùng nhau dựng lên ngôi đình để thờ Đức vua Hùng và ngôi đền để thờ Lý Dục Công, tôn ông làm Thành hoàng bản thổ, hương khói quanh năm. Trước đó lại nghe nói, Tản Viên Sơn Thánh, người xã Lăng Xương, là người anh hùng nhất trong vạn người, nên được vua Duệ Vương gả công chúa cho.
Từ khi chọn được rể hiền, vua Hùng có ý nhường ngôi cho con rể, nhưng Tản Viên Sơn Thánh (tên húy là Tuấn) từ chối không nhận, chỉ nguyện xin phù trợ quốc chính. Gặp lúc Văn Lang có giặc, Thánh Tản cùng với Lý Dục Công phụng mệnh vua cha, đem quân thẳng tiến về nơi Cung ấp (tức trang Hạ Bì), đánh nhau một trận dẹp yên quân giặc. Nhà vua nghe tin vô cùng mừng rỡ, xuống chiếu triệu hồi Sơn Thánh, Dực Công và các chư tướng khải hoàn trở về kinh đô khai yến tiệc, khen thưởng. Phong cho Thánh Tản và Lý Dục Công cùng Công chúa tước hiệu Đương cảnh Thành hoàng Hùng đoán Hộ quốc An dân Đại vương, cho phép trang Hạ Bì, tổng Bất Bạt, Sơn Tây được thờ cúng các thần.
2. Từ đó trở đi, người dân làng Hạ Bì Hạ đồng lòng tri ân, phụng thờ các bậc thành hoàng quanh năm và mở hội tưởng nhớ công lao của người đã khuất đối với dân làng vào các ngày thượng tuần tháng 3 âm lịch. Các bậc cao niên của làng còn nhớ: Trước năm 1945, cụm di tích đình – đền ở Hạ Bì Hạ rất bề thế, chiếm khoảng đất rộng do vua ban, lễ hội hàng năm tổ chức cực kỳ hoành tráng, có tiếng khắp vùng. Do Pháp đốt phá, lũ lụt và thời gian hủy hoại, cụm di tích nơi đây bị san phẳng, lễ hội gần như không tồn tại, chỉ còn đôi ba bát nhang do dân chúng tập trung hương khói tưởng nhớ đức vua Hùng và tiền nhân. Đình làng Hạ Bì Hạ được khôi phục lại năm 2001 trên nền móng cũ của ngôi đền thờ Lý Dực Công nằm ngay sát đê sông Đà (tỉnh lộ 316). Ngôi đình được làm quay hướng Tây – Bắc, có kiến trúc kiểu chữ đinh, gồm đại bái 3 gian 2 dĩ và một hậu cung. Kiến trúc đình Hạ Bì hiện nay tuy không đồ sộ, bề thế như ngôi đình cổ trước kia, nhưng vẫn mang kiểu dáng kiến trúc thuở xưa, nhà 4 mái lợp ngói âm có 4 đầu đao cong lên làm tăng thêm vẻ đẹp uy nghiêm cho ngôi đình. Cùng với kiến trúc là nghệ thuật trang trí làm đẹp cho ngôi đình đã được người thợ ngày nay quan tâm chú ý từ những đầu bẩy, bức cốn nách đến các con chồng, đầu dư, cốn mê đều được đục chạm những hình rồng, vân mây hoa lá cách điệu và được sơn ta đánh bóng khiến cho ngôi đình đẹp lộng lẫy. Với các giá trị lịch sử – văn hóa đặc sắc, đình – đền Hạ Bì Hạ đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh, là niềm tự hào của người dân.
Từ 1945 trở về trước, lễ hội tri ân vua Hùng và các Thánh Thần làng Hạ Bì Hạ được coi là một trong những lễ hội có tiếng vùng hạ lưu sông Đà. Do điều kiện lịch sử và hoàn cảnh khách quan cũng như chủ quan, hơn nửa thế kỷ qua, lễ hội làng Hạ Bì Hạ không còn được tổ chức một cách đầy đủ, theo nguyên bản vốn có trong quá khứ. Tuy nhiên, với sự quan tâm của các cấp chính quyền và đặc biệt là sự đồng thuận cao độ của cộng đồng, không gian văn hóa lễ hội đình Hạ Bì Hạ đã dần được khôi phục và tái dựng, đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của quảng đại dân chúng trong vùng.
3. Từ giữa tháng giêng đến cuối tháng 2 âm lịch, Ban quản lý di tích cùng ban khánh tiết và đại diện các khu dân cư đã họp để bàn công việc chuẩn bị lễ hội, phân công nhiệm vụ, trách nhiệm của từng ban ngành trong thôn. Việc hệ trọng có tính quyết định cho toàn bộ diễn trình lễ hội là cắt cử, chọn người tham gia các vai như ông chủ tế, ban thờ tự, lực lượng tham gia đội tế và đội quân rước kiệu… Song hành với việc phân bổ, lựa chọn các vai chính trên đây, ban khánh tiết đề xuất các yêu cầu chuẩn bị trang phục cho buổi lễ, kiểm tra các loại dụng cụ và các loại đồ thờ cúng phục vụ các công đoạn của lễ hội.
Lễ hội được tổ chức bắt đầu bằng lễ giao thư, sớm ngày mùng 5.3 âm lịch. Buổi chiều ông Từ thắp hương kính cáo vua Hùng và các Thánh. Sáng ngày mùng 7.3, dân làng tổ chức rước nước. Người lấy nước bao gồm ông Chủ tế, ông đọc chúc, ông hành văn, ra ngồi thuyền lấy nước đổ vào bình. Nước được lấy ở giữa dòng Đà Giang, rước về cung dâng lên ban thờ đức vua Hùng và các Thánh cùng Thành hoàng làng; và một phần để bao sái đồ thờ. Chiều ngày mùng 7.3 tổ chức cáo tế. Lúc này các cụ làm lễ, đọc hai bản văn cáo tế gồm có văn tế các vua Hùng và đức Thánh Tản Viên, kế tiếp là Văn tế Đức Bản Thổ Thành hoàng làng.
Ngày mùng 8 được coi là chính hội. Ngay từ sáng sớm, dân làng đã tập trung tổ chức rước đoàn kiệu từ đình ra đền Bà Chúa, từ đó, đón rước lô nhang từ đền Bà ven sông Đà về ban đồng tế ở đình làng. Mặc dù quãng đường rước kiệu không dài, nhưng đội rước với các lớp lang hùng hậu đã tạo ra không gian lễ hội hoành tráng và náo nhiệt. Khi rước xong, đoàn rước kiệu được nghỉ giải lao, đại diện các dòng họ và các gia đình trong làng bắt đầu lần lượt mang lễ ra để dâng tế Vua Hùng, Thánh Tản Viên và Thành hoàng họ Lý, tỏ lòng biết ơn và cầu mong trong năm mưa thuận gió hòa, gia đình bình yên vô sự. Lễ vật gồm có bánh dày, chè kho đó là hai lễ vật được coi là đặc sản hạ Bì, không thể thiếu trong mọi ngày lễ.
4. Vào đúng giờ hoàng đạo, đội nghi lễ khởi sự. Trong giây phút thiêng giữa không gian thiêng, ông Chủ tế đọc chiếu sắc và chúc văn tế Đức vua Hùng thứ 17 cùng Thánh Tản Viên và văn tế đức Bản Thổ thành hoàng làng. Đây là những giây phút linh thiêng nhất, và cũng phải vào thời điểm này, chiếu sắc mới được mở ra, còn bình thường luôn được giữ kín suốt năm. Buổi tế lễ bắt đầu bằng liên tục 3 hồi chiêng và 3 hồi trống, rồi tiếp sau đó mỗi người lại đánh thêm 3 tiếng nữa, ban nhạc lễ hội nổi nhạc, không khí lúc này thật thành kính và trang nghiêm. Kết thúc buổi lễ, Ban quản lý di tích cùng dân chúng trong thôn và khách mời tổ chức liên hoan thụ lộc ngay tại sân đình. Chiều ngày mùng 8, ông chủ từ thay mặt mọi người làm lễ tế thánh, báo công đã hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt đẹp và cảm ơn dân làng, bà con anh em đã giúp đỡ và tham gia lễ hội một cách nhiệt tình, thắng lợi.
Song hành với diễn trình 2 ngày dâng lễ và tế Thánh trong khuôn viên của đình, Ban quản lý di tích triển khai tổ chức các trò chơi dân gian và giao lưu văn nghệ, được sắp xếp một cách hợp lý, tăng thêm phần vui nhộn của lễ hội. Ngay từ ngày mùng 6 cho đến hết ngày mùng 7, nhiều hoạt động sôi nổi, phong phú, đã diễn ra, thu hút đông đảo dân chúng trong thôn tham gia. Tối mùng 6, Ban tổ chức lễ hội tổ chức thi văn nghệ như hát ca trù, chầu văn, quan họ, đặc biệt là chương trình văn nghệ của Câu lạc bộ hát Xoan làng Hạ Bì Hạ, thu hút đông đảo người dân quanh vùng đến thưởng thức. Dọc theo triền đê sông Đà và quanh không gian văn hóa cờ hội rợp trời của làng, nhiều trò chơi dân gian đặc sắc đã diễn ra, như: Nấu cơm thi, chọi gà, kéo co, tổ tôm điếm, cờ tướng, bắt trạch trong chum, bơi trải giành cờ… để tăng thêm phần sôi động của lễ hội.
5. Đến với lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ, trò nấu cơm thi không chỉ là một hình thức vui chơi giải trí trong dịp lễ hội mà nó còn lưu giữ những nét đẹp của truyền thống cha ông xưa, đó là sự nhanh nhẹn khéo léo, mang biểu tượng của hình thức vừa đi vừa nấu cơm nhanh cho binh sĩ kịp ăn trước giờ ra trận thời các vua Hùng. Đồng thời, nấu cơm thi còn là một trò diễn nhằm thể hiện lòng quý trọng lúa gạo, trau giồi thao tác chế biến một sản phẩm nông nghiệp quan trọng bậc nhất do chính tay người nông dân làm ra. Bên cạnh trò nấu cơm thi, người Hạ Bì còn tổ chức trò chơi kéo co và trò bắt trạch trong chum, tạo nên không khí hội náo nhiệt.
Hòa với không khí sôi động của ngày hội, các bậc cao niên Hạ Bì Hạ còn phục dựng truyền thống đánh cờ người và tổ tôm điếm, những hình thức vui chơi vừa trí tuệ, vừa tao nhã vốn đã có từ nhiều năm qua trên mảnh đất này.
Sáng mùng 9, dân làng cùng nhau quy tụ tại đình, lần lượt vào lễ tạ đức vua Hùng và các Thánh, kết thúc một mùa lễ hội vui tươi náo nhiệt để bước vào một năm làm ăn mới đầy ước vọng.
Như vậy là, bằng những hình thức xã hội hóa, tổ chức phục dựng, tôn tạo hàng loạt đình, đền, miếu, tạo nên một không gian văn hóa lễ hội đặc sắc, gắn với việc thờ phụng Hùng Vương đời thứ 17 cùng các tướng lĩnh và con gái của vua, người dân làng Hạ Bì Hạ đã chung sức chung lòng phục dựng được một kỳ lễ hội hoành tráng và náo nhiệt cho vùng hạ lưu sông Đà, góp phần bồi đắp thêm cho hệ thống tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đặc sắc và độc đáo của đất Trung châu Phú Thọ. Cũng nhờ đó, người dân làng Hạ Bì Hạ nói riêng, cộng đồng dân chúng tỉnh Phú Thọ nói chung đã có công sáng tạo, gìn giữ và bảo vệ được nguồn di sản văn hóa quý báu của quê hương “rừng cọ đồi chè”, làm đa dạng và phong phú thêm truyền thống văn hóa mang cốt cách và bản sắc văn hóa Việt trên tiến trình lịch sử. Điều đó càng đặc biệt giá trị khi tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã và đang hòa nhập vào hệ giá trị nhân văn mang tầm nhân loại!